Giao Thừa - Nguyễn Ngọc Tư

- 0 / 0
(Tài liệu chưa được thẩm định)
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:27' 25-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 8
Nguồn:
Người gửi: Lê Thị Minh Hiền
Ngày gửi: 10h:27' 25-03-2024
Dung lượng: 1.1 MB
Số lượt tải: 8
Số lượt thích:
0 người
Nguyễn Ngọc Tư
Giao Thừa
vietmessenger.com
Bởi Yêu Thương
Bao giờ qua cửa Sáu Tâm cũng cằn nhằn. Bao giờ qua cửa anh
cũng thấy Điệp lúi húi dọn dẹp, nấu nướng gì đó, "Mấy chuyện lặt
vặt, để tôi làm, sao không chịu nằm nghỉ không biết". Bữa nay thì tới
lượt chị nhằn, Sáu Tâm về nhà với đôi đầu gối bê bết máu :
- Tâm lại té à. Đi đường phải cẩn thận chớ.
- Không - Anh bảo - Hôm nay dạy con San nó đi gối.
- Tuồng gì ?.
- Phàn Lê Huê.
Chị bắt anh ngồi xuống gường, khẽ khàng vén ống quần lên, tháo
cái chân giả ra, băng bó lại đầu gối cụt chỏng chơ vẫn còn tươm
máu. Sáu Tâm nghe một giọt nước mặn nhỏ xuống làm rát bỏng chỗ
vết thương, anh càm ràm ( như tía chị ); "Khóc cái gì. Chút xíu vậy
cũng khóc ".
Hồi trưa này, San cũng ôm đầu gối anh mà khóc.
San là học trò của anh, nó làm tiếp viên ở quán Mây Lang Thang.
Trưa nào, anh kéo cái bội khăn đi ngang cũng thấy nó ngồi băng đá
đằng trước sân ngó cuộc đời. Son tô, phấn trát đậm như mấy người
lên đồng. Có bữa anh dừng lại chỗ gốc bàng, đứng rao : " Mười
ngàn năm cái khăn. Khăn Mỹ... Tho có ho như thầy Minh cũng
không rách. Mua khăn cô nhỏ. Khăn mới lau tủ cũ, cũ lau xe...", anh
thấy nó cười. Một bữa nó hỏi, có phải ngày xưa Sáu Tâm từng làm
kép hát không ? Sáu Tâm tự trào, tôi mặt rổ như " ga-mo-qua-xa-ky
"( gà mổ quá xá kỹ), đầu tóc bù xù, xi cà que, mình mẩy lúc nào
cũng hôi mồ hôi mà là kép chánh sao? Nói chơi hoài.
Nhưng San tin. Hồi đó đoàn Mây Mùa Thu về hát ở đình Tân Thuận.
Hôm ấy, đoàn hát vở "Đời cô Lựu" thiệt khuya. Ông bán khăn này
còn trẻ lắm, ông đóng vai Luân, mặc bộ đồ bà ba vá chằng vá đụp,
quần thì xăn ống thấp ống cao. Lúc xả giàn là tới đoạn Luân quỳ
xuống ngang gối, ôm cô Lựu ngẩng mặt lên, kêu mẹ. Trời ơi, San
bưng rổ khoai ế đứng nhìn mà rưng rưng nước mắt, sao mà cô Lựu
ôm Luân gọn gàng trìu mến đến như vậy, sao Luân hạnh phúc và
sung sướng đến như vậy.
Đó là lúc San ước mơ sau này lớn lên sẽ trở thành đào hát. Ừ, trở
thành đào hát, không cần phải đóng vai chánh, nổi tiếng làm gì, hát
phụ cũng được, đóng vai ác, vai hầu gái, cung nữ, bà già cũng
được... Nhưng San mê vai có má nhất. Dù người mẹ nghèo bị hắt
hủi cỡ nào, người mẹ giàu tàn nhẫn cỡ nào để chia cắt duyên con
(như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát), nhưng có làm gì thì hết
thảy đều vì quá thương con mình.
San hai mươi bốn tuổi, hai mươi bốn năm má mất. Bà chết vì sinh
khó. Cha San thường sau rượu, lúc say phà cái mùi hèm khăm
khẳm vô mặt San, " Tại cái con vô dụng này nên tao mới khổ sở như
vầy, vợ cũng chết, tiền cũng hết".
San cố sống để khỏi phải là đứa vô dụng. Áo cha rách, San khâu.
Cha kêu buồn ói, San chạy lấy thau lại hứng, dấp khăn nóng cho
người. Sáu tuổi nó đã è ạch nách cái rổ khoai lang luộc, xách thùng
mía lạnh rảo chân khắp làng trên xóm dưới. Mười hai tuổi nó xin
chạy bàn, rửa chén ở quán " Mây Lang Thang", mười tám tuổi nó
lấy chồng. Phải lấy chồng mới có tiền lễ để cha nó đổi chiếc xích lô
lấy cái Honda. Mà, đời kỳ thiệt, San lấy ngay cái thằng hồi nhỏ nó
ghét cay ghét đắng. Nó nhớ như in những lần na cái thùng mía lạnh
ngang qua nhà, thằng chồng nó lúc đó chừng mười, mười hai tuổi
chuyên chặn nó lại, giật mía mà ăn. Có bữa San cự, thằng nọ vạch
quần ra đái tỏn tỏn vô thùng mía, vừa đái vừa cười ha hả. Hôm đó,
San về nhà mà trong tay không có tiền. Dì nắm tóc nó mà đánh, San
có nói gì thì dì cũng không tin. Bây giờ lại lấy nhau, mỗi lần thấy
chồng tuột quần, lòng San dậy lên một nỗi căm thù. Được hai tuần,
San thôi, lại bỏ về quán Mây Lang Thang, nhưng không còn rửa
chén mà ngồi trong mấy cái buồng vuông vuông nhỏ nhỏ để tiếp
khách.
Ước mơ xưa chưa bao giờ trở thành hiện thực. Những khi quán
vắng, San cố ngủ cho nhiều, ngủ là khỏi thấy lòng buồn, má hy sanh
cho cái phận bọt bèo này làm chi không biết. Ngủ để coi có mơ thấy
mình trở thành đào hát không. Ngủ vì không thích tụm lại với chị em
để đánh bài, bàn số đề, giũa móng tay, nặn mụn hay đi mua sắm áo
dây, váy ngắn.
Mất gần một tháng Sáu Tâm mới nghe hết câu chuyện đời của nó.
Mỗi bữa ngồi đụt nắng dưới gốc cây còng trước quán, San kể anh
nghe một đoạn. Nhưng anh kép cũ không nhắc gì đến vầng hào
quang cũ, chỉ San ngồi nhắc hoài, nó kêu anh dạy nghề. Sáu Tâm
bảo, " Nghề hát bạc lắm ". San bảo, nghề của em còn bạc hơn, bạc
tại chỗ, những thằng mằn nắn mình, kêu mình bà xã ơi, cưng ơi,
toàn là tụi coi khinh mình như rác. Dứt khoát, em phải trở thành đào
hát, như đào Điệp ở đoàn chú vậy.
San nhớ, cô đào thiệt hiền, dân dã, tan buổi diễn để nguyên bộ áo
dài nâu, cái đầu bới ngồi ăn cháo vịt. Thấy San cứ tần ngần nhìn, cô
hỏi San đói không. San gật đầu, không đói nhưng vẫn gật đầu. Cô
gọi thêm một tô cháo, biểu San ăn đi, ngồi kế cô mà ăn. San ngồi
trước tô cháo nhưng cứ nhìn cô, chỉ mong được nép vô lòng kêu
tiếng má. Đào Điệp hỏi, con bán khoai hả, sao tan hát rồi mà không
về? Khoai còn hết? Cô mua cho. Ăn xong, con mau về đi, tan hát rồi,
đường tối lắm.
San nhớ hoài cái khuôn mặt dịu dàng đó, bao giờ nó cũng nghĩ, má
mình còn sống dứt khoát giống cố ấy. Nó kết luận, chỉ gặp một lần
thôi mà em thương cổ suốt đời.
Câu chuyện làm cho Sáu Tâm xúc động, gương mặt đen đúa trầm
lặng như tượng gỗ bỗng mềm lại. Anh bảo anh sẽ dạy. Ở đâu ư? Tại
cái sân dưới gốc cây bàng này. Sân chật đầy lá rụng có bữa bỗng
dưng biến thành sân triều. Sáu Tâm gọi, "Cung nữ !", San dạ, te te
đi ra tay dâng chén rượu ngang mày. Người đời qua lại, có cười.
Đám khách nhậu trong quán biết Sáu Tâm là anh kép hết thời, cứ
đòi nghe cho được. Mấy lần bà chủ quán ra biểu anh, " hát vài câu
đi rồi có tiền" (như bà mẹ biểu đứa con nít ăn cơm đi rồi cho kẹo),
lần nào Sáu Tâm cũng lắc đầu. Bà phật lòng, nghèo còn sĩ diện,
nghèo mà không biết nghe lời người có tiền. San hỏi, anh bảo :
- Có làm gì, đi đâu, chưa bao giờ tôi quên mình là nghệ sỹ, nghệ sỹ
là người của công chúng, người ta yêu mình bởi họ thấy mình cao
quý hơn họ, tôi không thể vì tiền mà sống hèn được. Cô nhỏ, sau
này có trở thành đào hát, cô nhớ lời tôi nghen.
Mỗi ngày, Sáu Tâm ghé chỗ San chừng mười mười lăm phút. Thời
gian còn lại anh kéo cái bội đan bằng nan tre có gắn mấy cái bánh
xe đi bán khăn, áo dạo. Anh cần tiền, nhiều tiền. Nhưng anh cũng
muốn về nhà. Nên lúc nào trong lòng anh cũng như lửa đốt.
Nhà Sáu Tâm ở xóm Gò Mả. Xóm nhỏ tụm lại trên nền nghĩa địa cũ.
Những ngôi nhà cửa trước luôn mở về phía nội ô như bị người ta
lấn tới nên giật lùi đến đây. Nhà anh cất kề chòm mả lạng, anh
không sợ, ma cũng như người, mình tử tế với họ thì họ cũng tử tế
với mình. Chỉ ngại, những lúc anh không ở nhà, chị thế nào cũng
mở cửa ra, nhìn những chòm cỏ xa xanh kia và nghĩ về cái chết.
Điệp càng ngày càng yếu. Chị ốm, mỏng như hột cốm dẹp. Tóc đã
rụng đến nỗi ở xa chừng mười bước có thể đếm được từng sợi,
từng sợi còn sót lại. Chị thôi xót xa rồi. Thôi từ cái bữa Sáu Tâm đã
làm vỡ gương, chị nhắc hoài anh chưa mua lại. Thôi từ cái bữa mơ
màng thấy anh nhặt tóc chị rụng trên gường đem đi giấu ở cái thùng
đạn hồi trước đựng đồ nghề vá xe. Chị níu lấy anh, vùi nước mắt vô
ngực anh mà ướt :
- Tâm ơi ! Tâm khổ vì tôi chi vậy ?.
Đâu mà biết nà. Tại duyên nợ. Điệp lớn hơn Tâm tròn con giáp. Lúc
anh mới vô đoàn hát, anh gọi Điệp bằng chị, xưng em. Điệp toàn hát
vai má anh, ráng lắm thì cũng vai em trai, loại em chuyên đi đưa thơ
cho người yêu chị gái mình. Vậy mà yêu, yêu tréo cẳng ngỗng, cũng
không biết để lòng thương lúc nào, ghê lắm cái lối thương thầm,
thấy đầm đầm vậy chứ rứt không ra. Lúc đầu thì Điệp thấy buồn
cười lắm, chị cứ theo chọc anh hoài, thí dụ tụi mình làm vợ chồng,
phải gọi làm sao, Tâm ha ?.
Cho tới cái bữa về hát Vàm Lẽo, nữa đêm trải chiếu nằm ngủ dưới
khán đài, sàn diễn đổ sập xuống, Sáu Tâm đẩy Điệp ra, chỉ anh là
còn kẹt lại trong đống đổ nát. Xương ống quyển bị dập. Đau lắm,
nằm một chỗ, không xoay mình được. Ông bầu cũng nghèo, tiếc
tiền, cứ bảo, trặc chân chút đỉnh rồi sai người đi hái thuốc về bó, đắp
thuốc tới khúc chân bị hoại, lầy lụa, người ta mới đưa anh đến bệnh
viện. Tháo khớp. Nỗi đau không nói được bằng lời, lìa khúc chân là
mãi mãi đứt lìa sân khấu.
Đó là những năm sân khấu cải lương lâm vào cảnh khó khăn. Đoàn
hát phải biễu diễn khắp cùng quê xó, phải trưng dụng những dụng
cụ phụ diễn đã bị nắng mưa làm mục nát. " Mưa Mùa Thu" rã gánh,
ông bầu bảo, còn ai hát hò gì nữa, tới Hồng Điệp cũng phải bỏ nghề
rồi, trông mong gì. Điệp cùng Sáu Tâm dìu dắt nhau đến cái xóm Gò
Mả này. Chị không hối tiếc, cuộc đời người ta ngoài ăn với ngủ, thời
gian còn lại là đi tìm một nữa của chính mình. Chị thì có anh.
Hai người, hai đôi tay hồi nào giờ chỉ quen múa gươm, lẫy roi, sảy
ngựa với ba cái chân để kiếm sống. Cực khổ nhọc nhằn nhưng
không nguôi thương nhớ nghề xưa. Điệp xin từ ông bầu rất nhiều
món đồ diễn, đem về cất kỹ, thỉnh thoảng, chị mặc áo đính kim sa
hát Mạnh Lệ Quân với anh. Lúc đó Điệp vẩn chưa phát bệnh.
Bây giờ chị không còn sống bao lâu nữa. Khối u ở cổ đã đi vào não.
Gương mặt xinh đẹp của chị biến đổi, nhiều bữa ngủ thức dậy, đôi
mắt sưng húp, mũi chảy máu ròng ròng. Tai bắt đầu ù ù không nghe
rõ. Nếu không phải trang trãi tiền thuốc cho chị, Sáu Tâm đã không
lang thang ngoài đường. Anh muốn được ở nhà, ở bên chị, nắm
nuối từng giây từng phút, để lúc chị đau anh giúp cho ly nước, vốc
thuốc, cái khăn ướt lau mặt, để ôm ghì chị vào lòng mỗi khi lên cơn
vật vã. Nhiều bữa mưa dầm đụt ở mái hiên nhà nào đó, Sáu Tâm
thèm được khóc. Anh nhìn mãi đôi tay mình. Đôi tay từng đi làm
mướn, đi bốc mả, vá xe, đôi tay từng bưng bê ở nhà hàng này, quán
nhậu nọ sao lại bất lực không thể níu giữ người mình thương.
Nhưng bao giờ anh cũng về nhà với khuôn mặt tươi cười. Cười
không phải vì vui. Anh nghĩ, may mình là nghệ sỹ, nếu không, sao
có thể cười giòn khi đang tan nát lòng đau. Nhiều khi, về tới đầu
xóm, Sáu Tâm phải dừng lại, đốt điếu thuốc để lắng cảm xúc của
mình lại.
Anh sợ cả lúc bước vào nhà thấy chị đang nằm ngủ, Điệp biết hết.
Nên mệt mỏi thế nào chị cũng làm cái gì đó để đợi anh về. Chị
thương anh quá.
May mà có San. Câu chuyện của nó làm cho cả hai người nhận ra
họ đã sống một đời nghệ sỹ đầy ý nghĩa. Như San, họ chưa thay đổi
được cuộc đời bất hạnh của nó nhưng đã an ủi nó nhiều. Điệp bảo :
- Em không tiếc gì đâu. Tâm đừng buồn cho em nữa, nghen.
Chị dặn, đừng nói cho San biết chị sống với anh, lại bệnh hoạn như
vầy, " nó đã giữ trong lòng một hình ảnh đẹp để ước mơ, mình đừng
phá hư đi ". Nhưng rồi một đêm chị không ngủ mà nằm nghe trái tim
anh đập từng nhịp gấp rãi, anh đang sống, chị nói với lòng, cái cơ
thể này đang sống, mình nỡ nào để anh tạnh nguội theo mình. Vô
tình, chị nghĩ đến San.
Bất ngờ, một buổi trưa, San tới. Hôm đó Sáu Tâm không đi bán mà
ở nhà lợp lại cái mái che đằng trước, lúc này trời trở gió, mưa cứ tạt
vô nhà. Anh còn kịp chạy lại lấy cái khăn vắt đầu gường đội lên đầu
cho chị như vẫn thường làm khi khách đến nhà. San hơi khựng lại,
nhưng nó nhận ra cô đào Điệp năm nào. Vẫn còn đó một đôi mắt
hiền, hơi ướt, dịu dàng :
- San phải không ?.
Và còn đó một giọng nói mềm như lá lụa non.
Đó là một ngày trời oi nắng, mây đứng trân trên trời. Đó là ngày San
nhận ra, trước người đàn bà đau ốm này đây, mình vô tình gây nên
tội, tội đẹp. Và tim nó thắt lại một cái đau nhói, vậy ra, người đàn
ông bán khăn áo dạo không ở một mình. Không biết làm gì, San lại
mở cửa sổ ra, nhìn những chòm cỏ xa xanh,nó kêu lên, "trời ơi, ở
đây bảnh thiệt, em thích một căn nhà như vầy lắm", lòng vừa đau
vừa thẹn thùa cười cái cọc đi kiếm con trâu.
Sau này, mỗi khi rảnh, dù Sáu Tâm có kéo cái bội khăn lang thang
trên đường phố, San cũng lại nhà. Căn nhà mà hồi mới thấy xa xa,
nó tưởng là nhà của mình. Bây giờ, lại đó, San quét nhà, nấu cơm,
đợi Điệp ngủ San kéo mềm tới cằm cho chị rồi lượm những sợi tóc
buồn xơ xác như những chiếc lá lìa cành đem đi giấu. Bữa trưa đầy
gió, chị biểu San đem lược lại chị chải tóc cho. Nó có mái tóc hệt chị
ngày còn trẻ. "Tụi mình có nhiều cái giống nhau nghen. Chị cũng
không có má, lớn lên trong trại mồ côi. Chị đến với sân khấu để vay
mượn những thâm tình mà mình chưa hề có. Hồi nhỏ chị cũng cực
lắm, nhưng không đến nỗi sa chân như San. Chị em mình còn một
chuyện giống nhau nữa, đố San biết, tụi mình cùng thương anh Sáu,
thương lắm, phải không ?".
San ngơ ngác hết mấy giây rồi lắc đầu. Chị bảo đừng giấu chị. " Ừ,
nếu không chê Tâm tàn tật thì bao giờ chị đi cho chị gởi lại. Em làm
lại cuộc đời đi, Tâm rộng lòng lắm, không chấp nhứt chuyện này nọ
đâu. Tâm dễ tánh. Mặc gì cũng được, ăn gì cũng xong. Con người
đàng hoàng, nghệ sỹ mà đàng hoàng, không phù phiếm, buông thả.
Kiếm người tin được không phải dễ đâu, San".
San không trả lời, không thể nói dối lòng rằng " Thôi! ", nhưng cũng
không thể gật đầu cái rụp. Có phải là trao trái chanh trái bưởi cho
nhau đâu mà một người đàn bà trao người mình thương yêu nhất
cho một người đàn bà.
Sáu Tâm không biết chuyện này. Tối lại nằm gối đầu lên tay anh, chị
bảo, " San nó thương anh lắm". Anh cười, "Tôi bây giờ đã thành ông
già, còn cô nhỏ đó..." Chị cũng cười, "Có sao, như Tâm với em".
Sáu Tâm biểu, " Ngủ à nghe". Nhưng chị biết anh vẫn thức bởi
những ý nghĩ mới mẻ trong lòng. Chị thì ngủ, giấc cuối cùng, sâu
thiệt là sâu. Đắp cỏ muôn đời.
.... San bỏ quán Mây Lang Thang, chiều chiều ngồi bán chuối, khoai
lang nướng mỡ hành bán ngoài cổng nhà văn hoá. Hỏi về giấc mơ
trở thành đào hát. Nó cười đã bỏ lâu rồi. Đi hát lỡ nổi tiếng, thí dụ
thôi nghen, người ta biết lúc trước tôi từng làm tiếp viên quán bia thì
nhơ danh cả một giới nghệ sỹ, làm người ta mất cảm tình với cải
lương, vậy khác nào hại cả nền sân khấu nước nhà.
Cũng giống như phim tình cảm, đôi khi người ta vì yêu mà rứt ruột
lìa xa người mình yêu. Biết làm sao, hoàn cảnh vậy mà.
Cái nhìn khắc khoải
Khoa điện thoại cho tôi từ phòng lab:
- Hình xong rồi, đã lắm. Mày kiếm đâu ra ông già ngon vậy?
Tôi cười, gác máy rồi xách xe chạy lại chỗ Khoa. Những tấm ảnh
đen trắng treo trên dây còn đọng nước, giọt rất tròn và trĩu. Khoa
nghiêng đầu ngắm:
- Mày coi, hình như, trong mắt ông già này có nước.
- Mày cận bao nhiêu độ rồi?
Khoa mắc cở tháo cặp kính ra, đôi mắt đờ đẫn.
- Hôm trước ba rưỡi, bây giờ chắc ba tám rồi.
- Mắt mày cũng còn ngon lắm.
Khoa lại hỏi tôi cái câu ban nãy, "mày kiếm ông này ở đâu mà thần
thái vậy?". Tôi không trả lời, ngước mắt nhìn về những bức ảnh của
tôi. Trong mảng tối sáng trong vắt, khuôn mặt một người đàn ông
hiện lên, trầm lặng mà sâu sắc.
Và tôi lại thấy mình ở trong một căn chòi chăn vịt cất dựa mé kinh
Chiếc. Căn chòi đầy khói. Cái mẻ un ám khói chất đầy giỏ dừa khô.
Khói ngùn ngụt khói. Ngồi trên cái sạp ghe đóng thưa bằng tre chẻ
thẻ, một người đàn ông ngồi nhìn ra cửa. Cô độc. Gió vụt vụt vô
chòi. Ông làm nghề nuôi vịt đẻ chạy đồng. Hôm nay ở đồng Rạch
Mũi, ngày mai ở Nhà Phấn Ngọn, xa nữa lại dạt đến Cái Bát không
chừng. Ông đậu ghe, dựng lều, lùa vịt lên những cánh đồng vừa
mới gặt xong, ngó chừng chừng sang những cánh đồng lúa vừa mới
chín tới và suy nghĩ về một vạt đồng khác lúa vừa no đòng đòng.
Đời của ông là một cuộc đời lang bạt. Một cuộc sống trên đồng khơi.
Chòi cặm ở đâu cũng được, miễn có chỗ khô ráo cho ông nằm. Buổi
sáng, ông lùa bầy vịt ra đồng, tay cầm cây trúc không róc đọt, bù xù.
Bầy vịt ngàn hai trăm con, ngoi quẫy, vẫy vùng, rúc vào những nùi rạ
mới, nhặt từng hột lúa. Con vịt xiêm tên Cộc cũng ào ra cùng bọn
chúng, những lúc đó, không phải vì bụng đói, mà vì mùi rạ thơm
quá, ngọt quá, ngụp mỏ vào thấy sướng người. Ông ngồi bệt trên
bờ mẫu, khăn sọc cũ quấn đầu, nón vải nâu lốm đốm mủ chuối. Ông
ngó lũ vịt và vấn điếu thuốc châm lửa, phà khói lên trời. Và trời rất
xa xanh, trong. Ông kêu :
- Cộc, biểu!
Con Cộc chạy lại, vẫy nước và cọ đầu vào bắp đùi đen bóng của
ông.
Buổi tối buồn lắm. Đêm nào cũng như đêm nấy, lùa vịt vô chuồng,
tắm táp qua loa, ông khom lưng thổi phù phù vô cái bếp un cho căn
chòi đầy khói rồi nằm đưa võng. Gió vụt vụt vô chòi. Con Cộc lò mò
ra đống rơm dập dềnh dưới mé kinh, vùi mình vào đó ngủ một giấc.
Nó tưởng lâu vậy, dài vậy mà lúc ngó lên vẫn thấy chao chát ngọn
đèn đỏ lòm. Ông kêu:
- Cộc, giận gì mà xuống đó vậy mậy?
Cộc lạch bạch đi lên. Nó ghé ngang cái lưới bao rào vịt, thò mỏ vào
mổ một con vịt ta khác. Gây chuyện chơi cho vui. Nó là con vịt chúa
gây chuyện. Ngoài những lúc này, nó khá cộc cằn, tư lự. Mấy người
bạn lang bạt của ông chụm lại nhậu lần nào cũng nhằn: "Cha nội
sống như vầy rầu thấy mẹ, mai mốt con vịt xiêm đó chết rồi, cha
sống với ai". Ông cười, "còn thằng con tao". Nó ở chợ. Lâu lắm mới
về thăm ông một lần, về tới, ngoài việc kêu ông bán bầy vịt ra ngoải
sống với nó, còn chuyện ông cưới vợ, nó nói, nó con trai, biết cô
đơn là cái gì rồi, khổ lắm, buồn lắm. Nó giục ông từ năm nó mười
hai tuổi. Ông ngạc nhiên lắm. Nhưng rồi ông biết rằng, nó đã học
được ông cái tánh rộng lòng đồng khơi, như trời cao. Ông vò đầu
nói với nó, cũng khó khăn thiệt, nhưng ông quen rồi. Nghề nuôi vịt
mà, nghèo, lang thang, đeo mang người nữa, không đành.
Tháng Tám. Ông trở về kinh Mười Hai, quê ruột của ông. Chèo gần
tới nhà ông thấy một người phụ nữ ngồi dưới bực cỏ đợi tàu. Chiều
rồi, tàu cuối chạy lúc ba giờ rưỡi đi qua đã lâu lắm. Dưới ghe ngó
lên, mặt người phụ nữ buồn so, buồn như sắp đâm đầu xuống sông
mà chết. Ông chèo lựng khựng cho ghe đi tới. Qua khỏi đám lá, ông
quạt chèo trở lại. Ông hỏi chị nọ đi đâu, chị khóc như mưa bấc, "Tôi
cũng không biết mình đi đâu". Lãng xẹt vậy đó. Ông ngại ngần ngó
những tia nắng đỏ cuối cùng đậu phía dưới đám dừa nước:
- Cô có sao không?
Người phụ nữ lắc đầu. Ông biểu chị xuống ghe cho quá giang. Chị
vẫn khóc.
- Tôi biết đi đâu mà quá giang bây giờ. Hay... làm ơn cho tôi theo
anh đêm nay nghen.
Ông suy nghĩ rất lâu và trả lời một câu nhỏ xíu trong khi tụi vịt đạp
đầu chen nhau dưới sạp ghe bằng tre đóng thưa thớt rộ lên lạc cạc
inh ỏi. Đôi chân đàn bà dè dặt bỏ xuống đầu ghe, con Cộc cuối đầu
không nói không rằng lùi lụi lại tính mổ một cái vô chân chị mừng
chơi nhưng ông la: "Cộc! Bị đòn nghe mậy". Nó dừng lại, đủng đỉnh
qua đi. Chị khịt mũi cái sột, lau nước mắt kêu: "Trời, vịt gì mà khôn
quá vậy?". Con vịt ngoắc ngoắc cái đầu lại, ý nói, Vịt Xiêm chứ vịt gì,
thiệt tình.
Qua thêm ba đám lá dày nữa là về tới nhà ông. Nhà vắng, vườn
hoang, lúc chạng vạng buồn hiu hắt. Ông đi năm ba tháng về một
lần, về đúng vạt đồng sau vừa chín. Hồi đi, con tắc kè ễnh bụng kêu
è è, hồi về đã thấy đeo trên cột nhà mấy con tắc kè con, da chưa
bông chưa hoa, mốc cời, đầu chờ vờ như cá lóc gặp nước mặn.
Ông đẩy cửa bước vô trước, tay quơ mớ váng nhện lùng nhùng, đốt
cái đèn, thổi lù lù mớ củi ướt. Chị ôm cặp đồ ngồi gá nhẹ mép ván,
ngó quanh. Ông lượng xượng, "Nhà bỏ lâu, bê bối quá chừng". Rồi
khói bay lên, ấm áp.
Ở căn nhà lá cũ mèm này, ông có nhiều kỷ niệm. Mỗi khi trở về nó
lại chảy thành dòng dịu ngọt trong ông, nó chảy khẽ giửa những
mạch máu. Những ngày thơ ông có ba má, những ngày trẻ ông có
người chăn gối cùng. Có cây lụa bên hè làm chứng, mỗi lần nhà đổ
bánh xèo, vợ ông ra hái đọt lụa, đứng tần ngần, "phải ảnh có nhà để
ăn". Chiến tranh, ông đi biền biệt. Ngày về, chỉ còn đứa con trai. Nó
khóc, kể, "Bửa đó cúng đình, có cải lương, má rũ con đi. Tuồng
Thoại Khanh Châu Tuấn đó ba. Hát chưa xong khúc Thoại Khanh
ngồi đờn cho công chúa Châu Tuấn nghe, thì pháo đằng đồn Chẹt
bắn lại, má con chết luôn". Mùa đó lụa ra lá từng chùm trắng xanh,
non nhuốt. Ông bắt thèm ứa nước mắt. Cũng thằng con ông, sau
này nó nhằn: "Chuyện buồn mà ba nhớ làm chi cho tới già vậy
không biết. Ông bảo ông có nhớ gì đâu. Thiệt đó, thằng nhóc, có
nhớ gì đâu. Thằng con chép miệng, "Khổ quá!"
Người phụ nữ ông lượm chiều đó còn khổ hơn. Chị quê Cây Khô, lỡ
thời, thương thằng (xin lỗi!) thợ gặt miệt Bình An đổ xuống. Không
biết gốc gác, cội nguồn người ta mà thương gì ác nhơn vậy không
biết. Làm vợ thợ gặt, sống đời thợ gặt. Chị ngồi vấn vạt áo: "Ai cũng
nói em ngu, cực cỡ nào em cũng chịu, miễn là mình thương người
ta". Vậy mà thằng đó (xin lỗi!) tệ thiệt, làm ít, nhậu nhiều. Tới đây,
nhậu nhẹt, nợ nần, chị ra gánh trả. Nợ nhiều quá, mấy cái quán tạp
hóa đòi lấy xuồng, nửa đêm chồng chị trốn đi, bỏ chị lại. Không biết
quê chồng, không về được quê mình, chị ra bờ sông ngồi khóc.
- Cô Út không ngại, cứ ở lại đây, chừng nào có hướng đi đâu, mần
ăn gì thì đi, nghen.
Nghe xong câu chuyện của chị, ông bập một hơi thuốc lá, nói một
câu, bập hơi nữa thì hết điếu.
Chị chịu ở lại. Buổi sáng, chị thức dậy bắc ấm nước lên bếp cho ông
uống trà, xong lùa vịt ra đồng. Thả vịt ruộng gần, chị đem cơm ra tới
chỗ, dọn trên bờ mẫu, ngồi nhìn trời, nhìn đất, nhìn vịt, chờ ông ăn
xong mới đi vô. Ruộng xa, chị thức dậy từ ba giờ sáng nấu cơm dỡ
cho ông xách theo. Thuốc gò, giấy quyến mới vơi một ít, chị bỏ lại
cho đầy để ông bỏ túi, "Nửa chừng mà hết thuốc chịu không thấu
anh Hai à, giửa đồng mông quạnh, buồn chết, hồi đó ảnh...", chị bỏ
câu nói nửa chừng. Mờ mờ trời, chị lụi hụi vô chuồng lấy hột vịt, rồ
chở ra chợ xã bán, chị tính:
- Chịu khó ra ngoài đó một chút, bán giá cao hơn anh Hai à. Sẵn hái
ít đọt lụa bán luôn, thứ này người ta khoái lắm.
- Nhưng phiền cô quá....
- Có gì đâu.
Chị làm cỏ ngoài sân, trồng lên dấp cá với húng lủi. Chị súc lu đợi
trời mưa hứng nước. Chị giặt mùng mền phơi cho thơm nắng. Ông
cằn nhằn:
- Cô làm gi như người ở đợ cho tôi vậy?
- Có gì đâu, anh Hai, được ở lại đây là em mừng rồi.
Ông ngoái lại, nói:
- Thiệt tình, cô ở lại để chờ người ta phải hôn cô?
Chị không trả lời, chị cuối đầu đi thẳng. Chị không đẹp lắm, nhưng
lúc thổi lửa có duyên. Chị không có duyên lắm nhưng lúc bậm môi
bửa củi thấy đẹp. Ông chắc không để ý chuyện này, ông bận đốn so
đũa cặm cột, dừng lá dừa nước làm cái nhà tắm cho chị. Ông vừa
mài cây búa vừa nói nhỏ nhỏ với con Cộc:
- Mình đàn ông gì cũng được, giờ có thêm người... Ông ngừng lại,
vuốt cánh con vịt -vậy hen Cộc?
Cộc không trả lời, kêu cóc cóc, há mỏ đớp vô mắt cá chân ông. Thì
vậy chứ còn sao nữa, ý nó muốn nói vậy. Rồi nó đủng đỉnh đi chơi,
dạo dạo bậy bạ kiếm trùn đất ăn. Ông nghĩ trong bụng hoài, "Làm vịt
như mầy coi bộ sướng. Cộc à, làm người, hỏng làm thì thôi, làm
phải cho ngon, thiệt khó".
Thằng con ông đi công tác qua nhà thấy có người lạ nó ngỡ ngàng.
Ngỡ ngàng xong thì mừng. Nó nói: "Ba lúc này ngon rồi nghen". Ông
gạt phăng phăng, "Mày chỉ giỏi bậy bạ". Ông không nói với nó vẫn
thường thấy chị ôm cái áo người cũ ngồi khóc, chị thường hay kho
cá bỏ me, ông vốn không thích. Hễ hổng đi chợ thì thôi, đi về y như
rằng mua chai rượu, ông có uống gì nhiều đâu. Thằng con không
biết. Thằng con đi dài dài xóm, ai cũng xầm xì chuyện của ba nó với
người đàn bà gặt mướn. Cô Ba nó nói: "Tao thấy con mẻ không
xứng với ba mày đâu, bỏ nhà theo trai, bị trai bỏ, giờ mới bám víu vô
đàn vịt của ổng, đàn bà đàng hoàng, ai ở lại dễ dãi vậy". Thằng con
cười, "Sao cũng được, cô Ba à, trước là trước, bây giờ là bây giờ,
tốt xấu gì ba con biết, miễn sao ba vui là được rồi". Cô Ba chẩng
hẩng.
Nhưng thằng con hơi thất vọng. Hễ chạng vạng, nhốt vịt, tắm rửa
xong, ông kêu con Cộc đi dài xóm chơi. Con vịt thì chạy xà quần
rượt cắn đám con nít, ông chơi lai rai với bè bạn, họ hàng. Chờ khi
khuya mới về. Về ngủ nhà xuồng cặp mé kinh. Nhà mục rồi, đêm
nằm nghe mối ăn trẹo trẹo, sợ chị ngại, ông nói: "tánh tôi ở đồng
quen rồi, ngủ có gió mới ngon". Không lẽ nói trắng ra, nằm trong
nhà, bên này nằm nghe bên kia thở nghe sao được. Những lúc nửa
đêm, con Cộc cắm đầu cắm cổ chạy, ông cũng cuốn mùng chạy. Chị
mở cửa năn nỉ ông vô nhà, để lạnh chết. Cực chẳng đã ông mới vô,
ngồi chí mí ván, chong chong nhìn ra cửa chờ tạnh hột. Chị cảm
động ứa nước mắt.
Chị vẫn thuờng đón ghe hàng bông hỏi thăm tin tức cánh thợ gặt An
Bình. Tin tức ngày càng xa. Ở đây, trăm ngả sông nuớc, làm sao mà
kiếm. Tin tức ngày càng vắng. Lúc rày, mua nắng thất thuờng. Nắng
một hơi năm bảy ngày, mưa một hơi năm bảy ngày, bà con nông
dân gặt ngay mưa, phơi lúa không được rầu muốn chết. Chị đi
chuyên nuớc vô lu, đôi dép Lào cu mỏng dính, trợt một cái trật gân.
Tội nghiệp quá chừng. Ông về nạt nộ một hơi, đã nói mà, cô có chịu
nghe tôi đâu. Nói vậy thôi, ông di chợ huyện mua thuốc cho chị, sẵn
mua đôi dép mới làm chị ngại trong lòng lắm. Ông bảo:
- Đôi dép cô mỏng thiếu điều cạo râu đuợc rồi, tiếc làm chi, để té
nữa thì khổ.
Những chiều, lùa bầy vịt no căng luờn từ ngoài ruộng về, ông xúc tô
com, ngồi ngoài gốc cây vú sữa đã bị cưa thành cái đôn, vừa ăn vừa
nhìn cây chanh núm bắt đầu ra trái. Dưới cầu ao, chị đang lật đít
xoong chùi lọ nghẹ, cảnh chiều êm đềm. Cô Ba đi qua, tròn con mắt.
Một bữa, mưa nhiều, lúc ông đội áo đi, chị dặn:
- Mưa lúc này gầm dữ quá, sét nhiều, anh Hai nhớ vô sớm nghen.
Ông gật đầu, day qua dặn lại:
- Cô Út thôi đừng hứng nước mưa nữa, hỏng chừng mai mốt tôi đi,
ai mà uống.
Chị chưng hửng hỏi ông đi dâu, ông trả lời giọng rất buồn:
- Thì cho vịt ăn hết đồng này phải lùa đi chổ khác chớ cô. Vịt đang
đẻ rất quạo, nhốt một hai ngày là mất sức. Tôi ở nhà cả tháng rồi,
cũng buồn.
Nói vậy rồi ông quay lưng đi. Chị vịn tay vào cửa, nhìn theo.
Buổi chiều, ông về sớm, chị giũ áo mưa của ông phơi lên vách,
miệng quở ông trời mưa dai thấy sợ. Chị xúc chén lúa đổ cho con
Cộc, miệng hỏi lãng như không: "Cộc, mưa lạnh hôn con?". Cộc
không trả lời, nó nghinh lên, ý nói vịt mà lạnh gì, ổng lạnh sao không
hỏi, thiệt tình. Ăn cơm xong, chị dọn ra xị rượu nướng mấy con khô
cá chạch:
- Anh Hai lai rai cho ấm bụng, mưa quá, nhâm nhi đỡ buồn.
Chị ngồi lắc võng, may hai cái bìa khăn mới mua cho ông, vừa may
vừa nói:
- Bây giờ người ta làm khăn mỏng dính, hỏng may xổ chỉ ra nùi nùi
hết trơn.
Ông không nói gì, đi xúc chén lúa lại đổ cho đầy mẻ, biểu "Cộc, lại
ăn nè". Con vịt không chạy lại cái mẻ mà lạch bạch đi tới chỗ bộ ván
ngựa sần sùi nó chui xuống gầm. Cái thau nhôm hôm nắng ông lấy
nấu chai trét chiếc ghe giờ được làm mẻ un đang phì phì khói. Ông
ngồi trước chai đế trầm ngâm. Chị dè dặt lên tiếng:
- Anh Hai tính chừng nào đi?
- Hai ba bữa nữa. Đi chuyến này qua tới miệt Khánh Hà, chắc đi lâu
mới về.
Người đàn bà cuối xuống cắn chỉ, che cái thở dài.
- Cô Út à, tôi... có chuyện muốn nói với cô.
Chị làm rối chỉ:
- Gì vậy anh Hai?
- Sáng nay tôi gặp thằng bạn, nó mới chạy bầy vịt từ nông trường
qua. Tôi hỏi, nghe nói có thợ gặt An Bình ở đó.
- Anh Hai!
Ông bước xuống đẩy mớ vỏ dừa vô mẻ un. Xơ dừa mịn, cháy rực,
rồi tắt ngắm.
- Ảnh tên Sinh phải hôn cô Út? Ờ, Sinh, ảnh... cũng đang gặt bên
đó, cô Út à.
- Anh Hai!
Chị buông cái khăn xuống kêu bàng hoàng.
- Tàu từ chạy nông trường lúc năm giờ, ngang đây, chắc cỡ sáu giờ
rưỡi. Cô ráng đón chuyến đó. Để lỡ tới bữa sau, sợ mấy ảnh lại
chuyển đồng, kiếm cực lắm. Tính vậy nghen cô Út.
Con Cộc lại hì hụi đi ra, ngỏng cổ lên nhìn ông. Khuôn mặt ông mờ
mờ sau làn khói. Khói mắt dịch, làm cay con mắt muốn chết. Cái
võng chị ngồi sau lưng ông, chị khom xuống cắn mớ chỉ rối mà
buồn. Ông rót ly rượu uống mà buồn.
- Anh Hai à, sao anh tính vậy?
- Tôi biết cô còn nặng lòng cùng ảnh. Qua bển hỏi đầu đuôi gốc
ngọn ra làm sao. Nói có tình, mình ở lại, biết đâu người ta có nỗi khổ
gì...
Chị bật khóc. Con Cộc điềm đạm lại cái mẻ lúa, nó ăn chậm rãi. Ý
nói làm sao mà tôi tội nghiệp hai người quá đi, làm người mà khổ
vậy, làm vịt còn sướng hơn. Đêm đó, ngoài nhà xuồng, nó nghe ông
thở nhẹ mà rất dài. Ai biểu...
Sáng sau ông lùa vịt ra đồng khi trời còn tối mịt tối mò. Ông đuổi vịt
đi xa thiệt xa nhưng vẫn nghe tàu bè ghé bến nào rất gần. Ông ngồi
bệt bên bờ mẫu, khăn cũ, nón cũ, kêu: "Cộc, biểu!" mà không thèm
để ý nó có lại hay không. Kêu chơi vậy thôi. Nhưng Cộc là con vịt có
nguyên tắc. Nó vẫn chạy lại, gác đầu lên đùi ông, cọ cọ an ủi. Rồi
bất ngờ, ông lùa vịt cắt vạt đồng hối hả trở vô. Ông bỏ quên bịch
thuốc trong nhà, thèm quá. Tới liếp tràm bông vàng trong vườn, ông
ngồi lại, lũ vịt tràn xuống ao rau muống tắm táp. Ở đây, bỏ ba liếp
chuối nữa là tới nhà. Ở nhà, không biết có còn ai...? Ngồi đây thôi,
bước vô đó lỡ không còn ai... Hồi lâu, ông nói như chỉ nói với mình:
- Mai mốt mình đi nữa hen Cộc?
Con vịt cạp mắt cá ông, đi thì đi chớ gì.
- Mày đi hoài, mầy mệt không?
Nó há mỏm đóm đen cạp ngón cái chân ông, thì mệt chớ.
- Tao đốn tràm, làm nhà lại, ở luôn nghen.
Con Cộc mổ vô ống quyển ông, rồi nhóng cần cổ dòm ông lom lom,
có phải ông chờ bà đó quay lại không? Ông nhìn lên ngọn tràm và
thấy mấy cái bông vàng như mấy con sâu rọm đang dịu dàng rơi
xuống. Có phải chỉ cần nhìn lại một chút, ông sẽ thấy ngọn khói bay
lên không? Gió lùa lá chuối khô giống hệt bước chân ai vậy. Ông
mắc ngoái nhìn. Và tôi đã chụp được chân dung ông trong ngoái
nhìn khắc khoải đó.
Tôi bảo Khoa:
- Những người như ông già này có rất nhiều ở xứ mình, Khoa à, tao
đâu có kiếm gì đâu.
Khoa nhìn tôi và nhìn lại những tấm ảnh, nó ngờ ngợ, "Mầ đang kể
về ba mầy, phải không?"
Chuyện Vui Điện Ảnh
Người ta nói chú Sa y chang như cầu thủ bóng đá Vũ Công Tuyền
của tuyển quốc gia. Vũ Công Tuyền sáng chói ở tuổi ba mươi, còn
chú Sa bốn mươi bốn tuổi thì tự nhiên nổi tiếng toàn quốc. Chú Sa
sống ở hẻm Cựa Gà, ngó ra dốc cầu Quay cũ. Đầu hẻm có dựng cái
bảng "Hẻm văn hóa 115", nhưng người trong thành phố vẫn quen
gọi là hẻm Cựa Gà. Nghĩ lại, để chữ "Hẻm văn hóa Cựa Gà" cũng
bậy, nghe nó tệ nạn làm sao ấy. Người trong hẻm làm đủ nghề, từ
mới vô ngạch công chức cho tới cán bộ về hưu, từ công nhân cho
tới bán bắp luộc, mua ve chai lông vịt, thiến heo... Họ gọi đó là nghề
tay mặt. Nghề tay trái là đóng phim. Bà con mê đóng phim lắm,
không phải vì sống được mà vì vui. Người đầu tiên rủ mọi người vô
nghệ thuật diễn mướn là chú Sa. Chú Sa làm bảo vệ kiêm thêm
trồng bông xén cỏ ở hãng phim truyền hình, người rất quý bà con
trong xóm. Chú thấy không thể để cho ngoài trăm khuôn mặt quanh
mình cả đời sống thầm sống lặng, kẹt trong hẻm này hoài. Chú kéo
cả xóm đi đóng phim để an ủi mỗi người có lúc thấy mình vô phim
khác ngoài đời. Bây giờ là trào lưu làm phim chiến tranh để nhớ về
quá khứ, mà hễ làm loại phim đó là phải cần thiệt nhiều diễn viên
quần chúng. Thanh niên vô vai lính, lúc bên mình, lúc thay áo qua
bên giặc. Ông bà già, con nít đóng vai dân, nhiều nhất là dân chạy
loạn. Sồn sồn cỡ chú Sa hóa trang vô vai lãnh đạo tham mưu hoặc
làm quan Tây. Tuổi nào có vai nấy, chạy ào qua cái mương, nước
văng sáng trắng, có thấy mặt mũi gì đâu nhưng vẫn gọi đây là vai,
vẫn vui. Dân hẻm Cựa Gà hồi nào giờ nổi tiếng hịch hạc, dễ chịu.
Riêng về chú Sa, một lần diễn vai ông nông dân...
Giao Thừa
vietmessenger.com
Bởi Yêu Thương
Bao giờ qua cửa Sáu Tâm cũng cằn nhằn. Bao giờ qua cửa anh
cũng thấy Điệp lúi húi dọn dẹp, nấu nướng gì đó, "Mấy chuyện lặt
vặt, để tôi làm, sao không chịu nằm nghỉ không biết". Bữa nay thì tới
lượt chị nhằn, Sáu Tâm về nhà với đôi đầu gối bê bết máu :
- Tâm lại té à. Đi đường phải cẩn thận chớ.
- Không - Anh bảo - Hôm nay dạy con San nó đi gối.
- Tuồng gì ?.
- Phàn Lê Huê.
Chị bắt anh ngồi xuống gường, khẽ khàng vén ống quần lên, tháo
cái chân giả ra, băng bó lại đầu gối cụt chỏng chơ vẫn còn tươm
máu. Sáu Tâm nghe một giọt nước mặn nhỏ xuống làm rát bỏng chỗ
vết thương, anh càm ràm ( như tía chị ); "Khóc cái gì. Chút xíu vậy
cũng khóc ".
Hồi trưa này, San cũng ôm đầu gối anh mà khóc.
San là học trò của anh, nó làm tiếp viên ở quán Mây Lang Thang.
Trưa nào, anh kéo cái bội khăn đi ngang cũng thấy nó ngồi băng đá
đằng trước sân ngó cuộc đời. Son tô, phấn trát đậm như mấy người
lên đồng. Có bữa anh dừng lại chỗ gốc bàng, đứng rao : " Mười
ngàn năm cái khăn. Khăn Mỹ... Tho có ho như thầy Minh cũng
không rách. Mua khăn cô nhỏ. Khăn mới lau tủ cũ, cũ lau xe...", anh
thấy nó cười. Một bữa nó hỏi, có phải ngày xưa Sáu Tâm từng làm
kép hát không ? Sáu Tâm tự trào, tôi mặt rổ như " ga-mo-qua-xa-ky
"( gà mổ quá xá kỹ), đầu tóc bù xù, xi cà que, mình mẩy lúc nào
cũng hôi mồ hôi mà là kép chánh sao? Nói chơi hoài.
Nhưng San tin. Hồi đó đoàn Mây Mùa Thu về hát ở đình Tân Thuận.
Hôm ấy, đoàn hát vở "Đời cô Lựu" thiệt khuya. Ông bán khăn này
còn trẻ lắm, ông đóng vai Luân, mặc bộ đồ bà ba vá chằng vá đụp,
quần thì xăn ống thấp ống cao. Lúc xả giàn là tới đoạn Luân quỳ
xuống ngang gối, ôm cô Lựu ngẩng mặt lên, kêu mẹ. Trời ơi, San
bưng rổ khoai ế đứng nhìn mà rưng rưng nước mắt, sao mà cô Lựu
ôm Luân gọn gàng trìu mến đến như vậy, sao Luân hạnh phúc và
sung sướng đến như vậy.
Đó là lúc San ước mơ sau này lớn lên sẽ trở thành đào hát. Ừ, trở
thành đào hát, không cần phải đóng vai chánh, nổi tiếng làm gì, hát
phụ cũng được, đóng vai ác, vai hầu gái, cung nữ, bà già cũng
được... Nhưng San mê vai có má nhất. Dù người mẹ nghèo bị hắt
hủi cỡ nào, người mẹ giàu tàn nhẫn cỡ nào để chia cắt duyên con
(như mấy tuồng cải lương bây giờ hay hát), nhưng có làm gì thì hết
thảy đều vì quá thương con mình.
San hai mươi bốn tuổi, hai mươi bốn năm má mất. Bà chết vì sinh
khó. Cha San thường sau rượu, lúc say phà cái mùi hèm khăm
khẳm vô mặt San, " Tại cái con vô dụng này nên tao mới khổ sở như
vầy, vợ cũng chết, tiền cũng hết".
San cố sống để khỏi phải là đứa vô dụng. Áo cha rách, San khâu.
Cha kêu buồn ói, San chạy lấy thau lại hứng, dấp khăn nóng cho
người. Sáu tuổi nó đã è ạch nách cái rổ khoai lang luộc, xách thùng
mía lạnh rảo chân khắp làng trên xóm dưới. Mười hai tuổi nó xin
chạy bàn, rửa chén ở quán " Mây Lang Thang", mười tám tuổi nó
lấy chồng. Phải lấy chồng mới có tiền lễ để cha nó đổi chiếc xích lô
lấy cái Honda. Mà, đời kỳ thiệt, San lấy ngay cái thằng hồi nhỏ nó
ghét cay ghét đắng. Nó nhớ như in những lần na cái thùng mía lạnh
ngang qua nhà, thằng chồng nó lúc đó chừng mười, mười hai tuổi
chuyên chặn nó lại, giật mía mà ăn. Có bữa San cự, thằng nọ vạch
quần ra đái tỏn tỏn vô thùng mía, vừa đái vừa cười ha hả. Hôm đó,
San về nhà mà trong tay không có tiền. Dì nắm tóc nó mà đánh, San
có nói gì thì dì cũng không tin. Bây giờ lại lấy nhau, mỗi lần thấy
chồng tuột quần, lòng San dậy lên một nỗi căm thù. Được hai tuần,
San thôi, lại bỏ về quán Mây Lang Thang, nhưng không còn rửa
chén mà ngồi trong mấy cái buồng vuông vuông nhỏ nhỏ để tiếp
khách.
Ước mơ xưa chưa bao giờ trở thành hiện thực. Những khi quán
vắng, San cố ngủ cho nhiều, ngủ là khỏi thấy lòng buồn, má hy sanh
cho cái phận bọt bèo này làm chi không biết. Ngủ để coi có mơ thấy
mình trở thành đào hát không. Ngủ vì không thích tụm lại với chị em
để đánh bài, bàn số đề, giũa móng tay, nặn mụn hay đi mua sắm áo
dây, váy ngắn.
Mất gần một tháng Sáu Tâm mới nghe hết câu chuyện đời của nó.
Mỗi bữa ngồi đụt nắng dưới gốc cây còng trước quán, San kể anh
nghe một đoạn. Nhưng anh kép cũ không nhắc gì đến vầng hào
quang cũ, chỉ San ngồi nhắc hoài, nó kêu anh dạy nghề. Sáu Tâm
bảo, " Nghề hát bạc lắm ". San bảo, nghề của em còn bạc hơn, bạc
tại chỗ, những thằng mằn nắn mình, kêu mình bà xã ơi, cưng ơi,
toàn là tụi coi khinh mình như rác. Dứt khoát, em phải trở thành đào
hát, như đào Điệp ở đoàn chú vậy.
San nhớ, cô đào thiệt hiền, dân dã, tan buổi diễn để nguyên bộ áo
dài nâu, cái đầu bới ngồi ăn cháo vịt. Thấy San cứ tần ngần nhìn, cô
hỏi San đói không. San gật đầu, không đói nhưng vẫn gật đầu. Cô
gọi thêm một tô cháo, biểu San ăn đi, ngồi kế cô mà ăn. San ngồi
trước tô cháo nhưng cứ nhìn cô, chỉ mong được nép vô lòng kêu
tiếng má. Đào Điệp hỏi, con bán khoai hả, sao tan hát rồi mà không
về? Khoai còn hết? Cô mua cho. Ăn xong, con mau về đi, tan hát rồi,
đường tối lắm.
San nhớ hoài cái khuôn mặt dịu dàng đó, bao giờ nó cũng nghĩ, má
mình còn sống dứt khoát giống cố ấy. Nó kết luận, chỉ gặp một lần
thôi mà em thương cổ suốt đời.
Câu chuyện làm cho Sáu Tâm xúc động, gương mặt đen đúa trầm
lặng như tượng gỗ bỗng mềm lại. Anh bảo anh sẽ dạy. Ở đâu ư? Tại
cái sân dưới gốc cây bàng này. Sân chật đầy lá rụng có bữa bỗng
dưng biến thành sân triều. Sáu Tâm gọi, "Cung nữ !", San dạ, te te
đi ra tay dâng chén rượu ngang mày. Người đời qua lại, có cười.
Đám khách nhậu trong quán biết Sáu Tâm là anh kép hết thời, cứ
đòi nghe cho được. Mấy lần bà chủ quán ra biểu anh, " hát vài câu
đi rồi có tiền" (như bà mẹ biểu đứa con nít ăn cơm đi rồi cho kẹo),
lần nào Sáu Tâm cũng lắc đầu. Bà phật lòng, nghèo còn sĩ diện,
nghèo mà không biết nghe lời người có tiền. San hỏi, anh bảo :
- Có làm gì, đi đâu, chưa bao giờ tôi quên mình là nghệ sỹ, nghệ sỹ
là người của công chúng, người ta yêu mình bởi họ thấy mình cao
quý hơn họ, tôi không thể vì tiền mà sống hèn được. Cô nhỏ, sau
này có trở thành đào hát, cô nhớ lời tôi nghen.
Mỗi ngày, Sáu Tâm ghé chỗ San chừng mười mười lăm phút. Thời
gian còn lại anh kéo cái bội đan bằng nan tre có gắn mấy cái bánh
xe đi bán khăn, áo dạo. Anh cần tiền, nhiều tiền. Nhưng anh cũng
muốn về nhà. Nên lúc nào trong lòng anh cũng như lửa đốt.
Nhà Sáu Tâm ở xóm Gò Mả. Xóm nhỏ tụm lại trên nền nghĩa địa cũ.
Những ngôi nhà cửa trước luôn mở về phía nội ô như bị người ta
lấn tới nên giật lùi đến đây. Nhà anh cất kề chòm mả lạng, anh
không sợ, ma cũng như người, mình tử tế với họ thì họ cũng tử tế
với mình. Chỉ ngại, những lúc anh không ở nhà, chị thế nào cũng
mở cửa ra, nhìn những chòm cỏ xa xanh kia và nghĩ về cái chết.
Điệp càng ngày càng yếu. Chị ốm, mỏng như hột cốm dẹp. Tóc đã
rụng đến nỗi ở xa chừng mười bước có thể đếm được từng sợi,
từng sợi còn sót lại. Chị thôi xót xa rồi. Thôi từ cái bữa Sáu Tâm đã
làm vỡ gương, chị nhắc hoài anh chưa mua lại. Thôi từ cái bữa mơ
màng thấy anh nhặt tóc chị rụng trên gường đem đi giấu ở cái thùng
đạn hồi trước đựng đồ nghề vá xe. Chị níu lấy anh, vùi nước mắt vô
ngực anh mà ướt :
- Tâm ơi ! Tâm khổ vì tôi chi vậy ?.
Đâu mà biết nà. Tại duyên nợ. Điệp lớn hơn Tâm tròn con giáp. Lúc
anh mới vô đoàn hát, anh gọi Điệp bằng chị, xưng em. Điệp toàn hát
vai má anh, ráng lắm thì cũng vai em trai, loại em chuyên đi đưa thơ
cho người yêu chị gái mình. Vậy mà yêu, yêu tréo cẳng ngỗng, cũng
không biết để lòng thương lúc nào, ghê lắm cái lối thương thầm,
thấy đầm đầm vậy chứ rứt không ra. Lúc đầu thì Điệp thấy buồn
cười lắm, chị cứ theo chọc anh hoài, thí dụ tụi mình làm vợ chồng,
phải gọi làm sao, Tâm ha ?.
Cho tới cái bữa về hát Vàm Lẽo, nữa đêm trải chiếu nằm ngủ dưới
khán đài, sàn diễn đổ sập xuống, Sáu Tâm đẩy Điệp ra, chỉ anh là
còn kẹt lại trong đống đổ nát. Xương ống quyển bị dập. Đau lắm,
nằm một chỗ, không xoay mình được. Ông bầu cũng nghèo, tiếc
tiền, cứ bảo, trặc chân chút đỉnh rồi sai người đi hái thuốc về bó, đắp
thuốc tới khúc chân bị hoại, lầy lụa, người ta mới đưa anh đến bệnh
viện. Tháo khớp. Nỗi đau không nói được bằng lời, lìa khúc chân là
mãi mãi đứt lìa sân khấu.
Đó là những năm sân khấu cải lương lâm vào cảnh khó khăn. Đoàn
hát phải biễu diễn khắp cùng quê xó, phải trưng dụng những dụng
cụ phụ diễn đã bị nắng mưa làm mục nát. " Mưa Mùa Thu" rã gánh,
ông bầu bảo, còn ai hát hò gì nữa, tới Hồng Điệp cũng phải bỏ nghề
rồi, trông mong gì. Điệp cùng Sáu Tâm dìu dắt nhau đến cái xóm Gò
Mả này. Chị không hối tiếc, cuộc đời người ta ngoài ăn với ngủ, thời
gian còn lại là đi tìm một nữa của chính mình. Chị thì có anh.
Hai người, hai đôi tay hồi nào giờ chỉ quen múa gươm, lẫy roi, sảy
ngựa với ba cái chân để kiếm sống. Cực khổ nhọc nhằn nhưng
không nguôi thương nhớ nghề xưa. Điệp xin từ ông bầu rất nhiều
món đồ diễn, đem về cất kỹ, thỉnh thoảng, chị mặc áo đính kim sa
hát Mạnh Lệ Quân với anh. Lúc đó Điệp vẩn chưa phát bệnh.
Bây giờ chị không còn sống bao lâu nữa. Khối u ở cổ đã đi vào não.
Gương mặt xinh đẹp của chị biến đổi, nhiều bữa ngủ thức dậy, đôi
mắt sưng húp, mũi chảy máu ròng ròng. Tai bắt đầu ù ù không nghe
rõ. Nếu không phải trang trãi tiền thuốc cho chị, Sáu Tâm đã không
lang thang ngoài đường. Anh muốn được ở nhà, ở bên chị, nắm
nuối từng giây từng phút, để lúc chị đau anh giúp cho ly nước, vốc
thuốc, cái khăn ướt lau mặt, để ôm ghì chị vào lòng mỗi khi lên cơn
vật vã. Nhiều bữa mưa dầm đụt ở mái hiên nhà nào đó, Sáu Tâm
thèm được khóc. Anh nhìn mãi đôi tay mình. Đôi tay từng đi làm
mướn, đi bốc mả, vá xe, đôi tay từng bưng bê ở nhà hàng này, quán
nhậu nọ sao lại bất lực không thể níu giữ người mình thương.
Nhưng bao giờ anh cũng về nhà với khuôn mặt tươi cười. Cười
không phải vì vui. Anh nghĩ, may mình là nghệ sỹ, nếu không, sao
có thể cười giòn khi đang tan nát lòng đau. Nhiều khi, về tới đầu
xóm, Sáu Tâm phải dừng lại, đốt điếu thuốc để lắng cảm xúc của
mình lại.
Anh sợ cả lúc bước vào nhà thấy chị đang nằm ngủ, Điệp biết hết.
Nên mệt mỏi thế nào chị cũng làm cái gì đó để đợi anh về. Chị
thương anh quá.
May mà có San. Câu chuyện của nó làm cho cả hai người nhận ra
họ đã sống một đời nghệ sỹ đầy ý nghĩa. Như San, họ chưa thay đổi
được cuộc đời bất hạnh của nó nhưng đã an ủi nó nhiều. Điệp bảo :
- Em không tiếc gì đâu. Tâm đừng buồn cho em nữa, nghen.
Chị dặn, đừng nói cho San biết chị sống với anh, lại bệnh hoạn như
vầy, " nó đã giữ trong lòng một hình ảnh đẹp để ước mơ, mình đừng
phá hư đi ". Nhưng rồi một đêm chị không ngủ mà nằm nghe trái tim
anh đập từng nhịp gấp rãi, anh đang sống, chị nói với lòng, cái cơ
thể này đang sống, mình nỡ nào để anh tạnh nguội theo mình. Vô
tình, chị nghĩ đến San.
Bất ngờ, một buổi trưa, San tới. Hôm đó Sáu Tâm không đi bán mà
ở nhà lợp lại cái mái che đằng trước, lúc này trời trở gió, mưa cứ tạt
vô nhà. Anh còn kịp chạy lại lấy cái khăn vắt đầu gường đội lên đầu
cho chị như vẫn thường làm khi khách đến nhà. San hơi khựng lại,
nhưng nó nhận ra cô đào Điệp năm nào. Vẫn còn đó một đôi mắt
hiền, hơi ướt, dịu dàng :
- San phải không ?.
Và còn đó một giọng nói mềm như lá lụa non.
Đó là một ngày trời oi nắng, mây đứng trân trên trời. Đó là ngày San
nhận ra, trước người đàn bà đau ốm này đây, mình vô tình gây nên
tội, tội đẹp. Và tim nó thắt lại một cái đau nhói, vậy ra, người đàn
ông bán khăn áo dạo không ở một mình. Không biết làm gì, San lại
mở cửa sổ ra, nhìn những chòm cỏ xa xanh,nó kêu lên, "trời ơi, ở
đây bảnh thiệt, em thích một căn nhà như vầy lắm", lòng vừa đau
vừa thẹn thùa cười cái cọc đi kiếm con trâu.
Sau này, mỗi khi rảnh, dù Sáu Tâm có kéo cái bội khăn lang thang
trên đường phố, San cũng lại nhà. Căn nhà mà hồi mới thấy xa xa,
nó tưởng là nhà của mình. Bây giờ, lại đó, San quét nhà, nấu cơm,
đợi Điệp ngủ San kéo mềm tới cằm cho chị rồi lượm những sợi tóc
buồn xơ xác như những chiếc lá lìa cành đem đi giấu. Bữa trưa đầy
gió, chị biểu San đem lược lại chị chải tóc cho. Nó có mái tóc hệt chị
ngày còn trẻ. "Tụi mình có nhiều cái giống nhau nghen. Chị cũng
không có má, lớn lên trong trại mồ côi. Chị đến với sân khấu để vay
mượn những thâm tình mà mình chưa hề có. Hồi nhỏ chị cũng cực
lắm, nhưng không đến nỗi sa chân như San. Chị em mình còn một
chuyện giống nhau nữa, đố San biết, tụi mình cùng thương anh Sáu,
thương lắm, phải không ?".
San ngơ ngác hết mấy giây rồi lắc đầu. Chị bảo đừng giấu chị. " Ừ,
nếu không chê Tâm tàn tật thì bao giờ chị đi cho chị gởi lại. Em làm
lại cuộc đời đi, Tâm rộng lòng lắm, không chấp nhứt chuyện này nọ
đâu. Tâm dễ tánh. Mặc gì cũng được, ăn gì cũng xong. Con người
đàng hoàng, nghệ sỹ mà đàng hoàng, không phù phiếm, buông thả.
Kiếm người tin được không phải dễ đâu, San".
San không trả lời, không thể nói dối lòng rằng " Thôi! ", nhưng cũng
không thể gật đầu cái rụp. Có phải là trao trái chanh trái bưởi cho
nhau đâu mà một người đàn bà trao người mình thương yêu nhất
cho một người đàn bà.
Sáu Tâm không biết chuyện này. Tối lại nằm gối đầu lên tay anh, chị
bảo, " San nó thương anh lắm". Anh cười, "Tôi bây giờ đã thành ông
già, còn cô nhỏ đó..." Chị cũng cười, "Có sao, như Tâm với em".
Sáu Tâm biểu, " Ngủ à nghe". Nhưng chị biết anh vẫn thức bởi
những ý nghĩ mới mẻ trong lòng. Chị thì ngủ, giấc cuối cùng, sâu
thiệt là sâu. Đắp cỏ muôn đời.
.... San bỏ quán Mây Lang Thang, chiều chiều ngồi bán chuối, khoai
lang nướng mỡ hành bán ngoài cổng nhà văn hoá. Hỏi về giấc mơ
trở thành đào hát. Nó cười đã bỏ lâu rồi. Đi hát lỡ nổi tiếng, thí dụ
thôi nghen, người ta biết lúc trước tôi từng làm tiếp viên quán bia thì
nhơ danh cả một giới nghệ sỹ, làm người ta mất cảm tình với cải
lương, vậy khác nào hại cả nền sân khấu nước nhà.
Cũng giống như phim tình cảm, đôi khi người ta vì yêu mà rứt ruột
lìa xa người mình yêu. Biết làm sao, hoàn cảnh vậy mà.
Cái nhìn khắc khoải
Khoa điện thoại cho tôi từ phòng lab:
- Hình xong rồi, đã lắm. Mày kiếm đâu ra ông già ngon vậy?
Tôi cười, gác máy rồi xách xe chạy lại chỗ Khoa. Những tấm ảnh
đen trắng treo trên dây còn đọng nước, giọt rất tròn và trĩu. Khoa
nghiêng đầu ngắm:
- Mày coi, hình như, trong mắt ông già này có nước.
- Mày cận bao nhiêu độ rồi?
Khoa mắc cở tháo cặp kính ra, đôi mắt đờ đẫn.
- Hôm trước ba rưỡi, bây giờ chắc ba tám rồi.
- Mắt mày cũng còn ngon lắm.
Khoa lại hỏi tôi cái câu ban nãy, "mày kiếm ông này ở đâu mà thần
thái vậy?". Tôi không trả lời, ngước mắt nhìn về những bức ảnh của
tôi. Trong mảng tối sáng trong vắt, khuôn mặt một người đàn ông
hiện lên, trầm lặng mà sâu sắc.
Và tôi lại thấy mình ở trong một căn chòi chăn vịt cất dựa mé kinh
Chiếc. Căn chòi đầy khói. Cái mẻ un ám khói chất đầy giỏ dừa khô.
Khói ngùn ngụt khói. Ngồi trên cái sạp ghe đóng thưa bằng tre chẻ
thẻ, một người đàn ông ngồi nhìn ra cửa. Cô độc. Gió vụt vụt vô
chòi. Ông làm nghề nuôi vịt đẻ chạy đồng. Hôm nay ở đồng Rạch
Mũi, ngày mai ở Nhà Phấn Ngọn, xa nữa lại dạt đến Cái Bát không
chừng. Ông đậu ghe, dựng lều, lùa vịt lên những cánh đồng vừa
mới gặt xong, ngó chừng chừng sang những cánh đồng lúa vừa mới
chín tới và suy nghĩ về một vạt đồng khác lúa vừa no đòng đòng.
Đời của ông là một cuộc đời lang bạt. Một cuộc sống trên đồng khơi.
Chòi cặm ở đâu cũng được, miễn có chỗ khô ráo cho ông nằm. Buổi
sáng, ông lùa bầy vịt ra đồng, tay cầm cây trúc không róc đọt, bù xù.
Bầy vịt ngàn hai trăm con, ngoi quẫy, vẫy vùng, rúc vào những nùi rạ
mới, nhặt từng hột lúa. Con vịt xiêm tên Cộc cũng ào ra cùng bọn
chúng, những lúc đó, không phải vì bụng đói, mà vì mùi rạ thơm
quá, ngọt quá, ngụp mỏ vào thấy sướng người. Ông ngồi bệt trên
bờ mẫu, khăn sọc cũ quấn đầu, nón vải nâu lốm đốm mủ chuối. Ông
ngó lũ vịt và vấn điếu thuốc châm lửa, phà khói lên trời. Và trời rất
xa xanh, trong. Ông kêu :
- Cộc, biểu!
Con Cộc chạy lại, vẫy nước và cọ đầu vào bắp đùi đen bóng của
ông.
Buổi tối buồn lắm. Đêm nào cũng như đêm nấy, lùa vịt vô chuồng,
tắm táp qua loa, ông khom lưng thổi phù phù vô cái bếp un cho căn
chòi đầy khói rồi nằm đưa võng. Gió vụt vụt vô chòi. Con Cộc lò mò
ra đống rơm dập dềnh dưới mé kinh, vùi mình vào đó ngủ một giấc.
Nó tưởng lâu vậy, dài vậy mà lúc ngó lên vẫn thấy chao chát ngọn
đèn đỏ lòm. Ông kêu:
- Cộc, giận gì mà xuống đó vậy mậy?
Cộc lạch bạch đi lên. Nó ghé ngang cái lưới bao rào vịt, thò mỏ vào
mổ một con vịt ta khác. Gây chuyện chơi cho vui. Nó là con vịt chúa
gây chuyện. Ngoài những lúc này, nó khá cộc cằn, tư lự. Mấy người
bạn lang bạt của ông chụm lại nhậu lần nào cũng nhằn: "Cha nội
sống như vầy rầu thấy mẹ, mai mốt con vịt xiêm đó chết rồi, cha
sống với ai". Ông cười, "còn thằng con tao". Nó ở chợ. Lâu lắm mới
về thăm ông một lần, về tới, ngoài việc kêu ông bán bầy vịt ra ngoải
sống với nó, còn chuyện ông cưới vợ, nó nói, nó con trai, biết cô
đơn là cái gì rồi, khổ lắm, buồn lắm. Nó giục ông từ năm nó mười
hai tuổi. Ông ngạc nhiên lắm. Nhưng rồi ông biết rằng, nó đã học
được ông cái tánh rộng lòng đồng khơi, như trời cao. Ông vò đầu
nói với nó, cũng khó khăn thiệt, nhưng ông quen rồi. Nghề nuôi vịt
mà, nghèo, lang thang, đeo mang người nữa, không đành.
Tháng Tám. Ông trở về kinh Mười Hai, quê ruột của ông. Chèo gần
tới nhà ông thấy một người phụ nữ ngồi dưới bực cỏ đợi tàu. Chiều
rồi, tàu cuối chạy lúc ba giờ rưỡi đi qua đã lâu lắm. Dưới ghe ngó
lên, mặt người phụ nữ buồn so, buồn như sắp đâm đầu xuống sông
mà chết. Ông chèo lựng khựng cho ghe đi tới. Qua khỏi đám lá, ông
quạt chèo trở lại. Ông hỏi chị nọ đi đâu, chị khóc như mưa bấc, "Tôi
cũng không biết mình đi đâu". Lãng xẹt vậy đó. Ông ngại ngần ngó
những tia nắng đỏ cuối cùng đậu phía dưới đám dừa nước:
- Cô có sao không?
Người phụ nữ lắc đầu. Ông biểu chị xuống ghe cho quá giang. Chị
vẫn khóc.
- Tôi biết đi đâu mà quá giang bây giờ. Hay... làm ơn cho tôi theo
anh đêm nay nghen.
Ông suy nghĩ rất lâu và trả lời một câu nhỏ xíu trong khi tụi vịt đạp
đầu chen nhau dưới sạp ghe bằng tre đóng thưa thớt rộ lên lạc cạc
inh ỏi. Đôi chân đàn bà dè dặt bỏ xuống đầu ghe, con Cộc cuối đầu
không nói không rằng lùi lụi lại tính mổ một cái vô chân chị mừng
chơi nhưng ông la: "Cộc! Bị đòn nghe mậy". Nó dừng lại, đủng đỉnh
qua đi. Chị khịt mũi cái sột, lau nước mắt kêu: "Trời, vịt gì mà khôn
quá vậy?". Con vịt ngoắc ngoắc cái đầu lại, ý nói, Vịt Xiêm chứ vịt gì,
thiệt tình.
Qua thêm ba đám lá dày nữa là về tới nhà ông. Nhà vắng, vườn
hoang, lúc chạng vạng buồn hiu hắt. Ông đi năm ba tháng về một
lần, về đúng vạt đồng sau vừa chín. Hồi đi, con tắc kè ễnh bụng kêu
è è, hồi về đã thấy đeo trên cột nhà mấy con tắc kè con, da chưa
bông chưa hoa, mốc cời, đầu chờ vờ như cá lóc gặp nước mặn.
Ông đẩy cửa bước vô trước, tay quơ mớ váng nhện lùng nhùng, đốt
cái đèn, thổi lù lù mớ củi ướt. Chị ôm cặp đồ ngồi gá nhẹ mép ván,
ngó quanh. Ông lượng xượng, "Nhà bỏ lâu, bê bối quá chừng". Rồi
khói bay lên, ấm áp.
Ở căn nhà lá cũ mèm này, ông có nhiều kỷ niệm. Mỗi khi trở về nó
lại chảy thành dòng dịu ngọt trong ông, nó chảy khẽ giửa những
mạch máu. Những ngày thơ ông có ba má, những ngày trẻ ông có
người chăn gối cùng. Có cây lụa bên hè làm chứng, mỗi lần nhà đổ
bánh xèo, vợ ông ra hái đọt lụa, đứng tần ngần, "phải ảnh có nhà để
ăn". Chiến tranh, ông đi biền biệt. Ngày về, chỉ còn đứa con trai. Nó
khóc, kể, "Bửa đó cúng đình, có cải lương, má rũ con đi. Tuồng
Thoại Khanh Châu Tuấn đó ba. Hát chưa xong khúc Thoại Khanh
ngồi đờn cho công chúa Châu Tuấn nghe, thì pháo đằng đồn Chẹt
bắn lại, má con chết luôn". Mùa đó lụa ra lá từng chùm trắng xanh,
non nhuốt. Ông bắt thèm ứa nước mắt. Cũng thằng con ông, sau
này nó nhằn: "Chuyện buồn mà ba nhớ làm chi cho tới già vậy
không biết. Ông bảo ông có nhớ gì đâu. Thiệt đó, thằng nhóc, có
nhớ gì đâu. Thằng con chép miệng, "Khổ quá!"
Người phụ nữ ông lượm chiều đó còn khổ hơn. Chị quê Cây Khô, lỡ
thời, thương thằng (xin lỗi!) thợ gặt miệt Bình An đổ xuống. Không
biết gốc gác, cội nguồn người ta mà thương gì ác nhơn vậy không
biết. Làm vợ thợ gặt, sống đời thợ gặt. Chị ngồi vấn vạt áo: "Ai cũng
nói em ngu, cực cỡ nào em cũng chịu, miễn là mình thương người
ta". Vậy mà thằng đó (xin lỗi!) tệ thiệt, làm ít, nhậu nhiều. Tới đây,
nhậu nhẹt, nợ nần, chị ra gánh trả. Nợ nhiều quá, mấy cái quán tạp
hóa đòi lấy xuồng, nửa đêm chồng chị trốn đi, bỏ chị lại. Không biết
quê chồng, không về được quê mình, chị ra bờ sông ngồi khóc.
- Cô Út không ngại, cứ ở lại đây, chừng nào có hướng đi đâu, mần
ăn gì thì đi, nghen.
Nghe xong câu chuyện của chị, ông bập một hơi thuốc lá, nói một
câu, bập hơi nữa thì hết điếu.
Chị chịu ở lại. Buổi sáng, chị thức dậy bắc ấm nước lên bếp cho ông
uống trà, xong lùa vịt ra đồng. Thả vịt ruộng gần, chị đem cơm ra tới
chỗ, dọn trên bờ mẫu, ngồi nhìn trời, nhìn đất, nhìn vịt, chờ ông ăn
xong mới đi vô. Ruộng xa, chị thức dậy từ ba giờ sáng nấu cơm dỡ
cho ông xách theo. Thuốc gò, giấy quyến mới vơi một ít, chị bỏ lại
cho đầy để ông bỏ túi, "Nửa chừng mà hết thuốc chịu không thấu
anh Hai à, giửa đồng mông quạnh, buồn chết, hồi đó ảnh...", chị bỏ
câu nói nửa chừng. Mờ mờ trời, chị lụi hụi vô chuồng lấy hột vịt, rồ
chở ra chợ xã bán, chị tính:
- Chịu khó ra ngoài đó một chút, bán giá cao hơn anh Hai à. Sẵn hái
ít đọt lụa bán luôn, thứ này người ta khoái lắm.
- Nhưng phiền cô quá....
- Có gì đâu.
Chị làm cỏ ngoài sân, trồng lên dấp cá với húng lủi. Chị súc lu đợi
trời mưa hứng nước. Chị giặt mùng mền phơi cho thơm nắng. Ông
cằn nhằn:
- Cô làm gi như người ở đợ cho tôi vậy?
- Có gì đâu, anh Hai, được ở lại đây là em mừng rồi.
Ông ngoái lại, nói:
- Thiệt tình, cô ở lại để chờ người ta phải hôn cô?
Chị không trả lời, chị cuối đầu đi thẳng. Chị không đẹp lắm, nhưng
lúc thổi lửa có duyên. Chị không có duyên lắm nhưng lúc bậm môi
bửa củi thấy đẹp. Ông chắc không để ý chuyện này, ông bận đốn so
đũa cặm cột, dừng lá dừa nước làm cái nhà tắm cho chị. Ông vừa
mài cây búa vừa nói nhỏ nhỏ với con Cộc:
- Mình đàn ông gì cũng được, giờ có thêm người... Ông ngừng lại,
vuốt cánh con vịt -vậy hen Cộc?
Cộc không trả lời, kêu cóc cóc, há mỏ đớp vô mắt cá chân ông. Thì
vậy chứ còn sao nữa, ý nó muốn nói vậy. Rồi nó đủng đỉnh đi chơi,
dạo dạo bậy bạ kiếm trùn đất ăn. Ông nghĩ trong bụng hoài, "Làm vịt
như mầy coi bộ sướng. Cộc à, làm người, hỏng làm thì thôi, làm
phải cho ngon, thiệt khó".
Thằng con ông đi công tác qua nhà thấy có người lạ nó ngỡ ngàng.
Ngỡ ngàng xong thì mừng. Nó nói: "Ba lúc này ngon rồi nghen". Ông
gạt phăng phăng, "Mày chỉ giỏi bậy bạ". Ông không nói với nó vẫn
thường thấy chị ôm cái áo người cũ ngồi khóc, chị thường hay kho
cá bỏ me, ông vốn không thích. Hễ hổng đi chợ thì thôi, đi về y như
rằng mua chai rượu, ông có uống gì nhiều đâu. Thằng con không
biết. Thằng con đi dài dài xóm, ai cũng xầm xì chuyện của ba nó với
người đàn bà gặt mướn. Cô Ba nó nói: "Tao thấy con mẻ không
xứng với ba mày đâu, bỏ nhà theo trai, bị trai bỏ, giờ mới bám víu vô
đàn vịt của ổng, đàn bà đàng hoàng, ai ở lại dễ dãi vậy". Thằng con
cười, "Sao cũng được, cô Ba à, trước là trước, bây giờ là bây giờ,
tốt xấu gì ba con biết, miễn sao ba vui là được rồi". Cô Ba chẩng
hẩng.
Nhưng thằng con hơi thất vọng. Hễ chạng vạng, nhốt vịt, tắm rửa
xong, ông kêu con Cộc đi dài xóm chơi. Con vịt thì chạy xà quần
rượt cắn đám con nít, ông chơi lai rai với bè bạn, họ hàng. Chờ khi
khuya mới về. Về ngủ nhà xuồng cặp mé kinh. Nhà mục rồi, đêm
nằm nghe mối ăn trẹo trẹo, sợ chị ngại, ông nói: "tánh tôi ở đồng
quen rồi, ngủ có gió mới ngon". Không lẽ nói trắng ra, nằm trong
nhà, bên này nằm nghe bên kia thở nghe sao được. Những lúc nửa
đêm, con Cộc cắm đầu cắm cổ chạy, ông cũng cuốn mùng chạy. Chị
mở cửa năn nỉ ông vô nhà, để lạnh chết. Cực chẳng đã ông mới vô,
ngồi chí mí ván, chong chong nhìn ra cửa chờ tạnh hột. Chị cảm
động ứa nước mắt.
Chị vẫn thuờng đón ghe hàng bông hỏi thăm tin tức cánh thợ gặt An
Bình. Tin tức ngày càng xa. Ở đây, trăm ngả sông nuớc, làm sao mà
kiếm. Tin tức ngày càng vắng. Lúc rày, mua nắng thất thuờng. Nắng
một hơi năm bảy ngày, mưa một hơi năm bảy ngày, bà con nông
dân gặt ngay mưa, phơi lúa không được rầu muốn chết. Chị đi
chuyên nuớc vô lu, đôi dép Lào cu mỏng dính, trợt một cái trật gân.
Tội nghiệp quá chừng. Ông về nạt nộ một hơi, đã nói mà, cô có chịu
nghe tôi đâu. Nói vậy thôi, ông di chợ huyện mua thuốc cho chị, sẵn
mua đôi dép mới làm chị ngại trong lòng lắm. Ông bảo:
- Đôi dép cô mỏng thiếu điều cạo râu đuợc rồi, tiếc làm chi, để té
nữa thì khổ.
Những chiều, lùa bầy vịt no căng luờn từ ngoài ruộng về, ông xúc tô
com, ngồi ngoài gốc cây vú sữa đã bị cưa thành cái đôn, vừa ăn vừa
nhìn cây chanh núm bắt đầu ra trái. Dưới cầu ao, chị đang lật đít
xoong chùi lọ nghẹ, cảnh chiều êm đềm. Cô Ba đi qua, tròn con mắt.
Một bữa, mưa nhiều, lúc ông đội áo đi, chị dặn:
- Mưa lúc này gầm dữ quá, sét nhiều, anh Hai nhớ vô sớm nghen.
Ông gật đầu, day qua dặn lại:
- Cô Út thôi đừng hứng nước mưa nữa, hỏng chừng mai mốt tôi đi,
ai mà uống.
Chị chưng hửng hỏi ông đi dâu, ông trả lời giọng rất buồn:
- Thì cho vịt ăn hết đồng này phải lùa đi chổ khác chớ cô. Vịt đang
đẻ rất quạo, nhốt một hai ngày là mất sức. Tôi ở nhà cả tháng rồi,
cũng buồn.
Nói vậy rồi ông quay lưng đi. Chị vịn tay vào cửa, nhìn theo.
Buổi chiều, ông về sớm, chị giũ áo mưa của ông phơi lên vách,
miệng quở ông trời mưa dai thấy sợ. Chị xúc chén lúa đổ cho con
Cộc, miệng hỏi lãng như không: "Cộc, mưa lạnh hôn con?". Cộc
không trả lời, nó nghinh lên, ý nói vịt mà lạnh gì, ổng lạnh sao không
hỏi, thiệt tình. Ăn cơm xong, chị dọn ra xị rượu nướng mấy con khô
cá chạch:
- Anh Hai lai rai cho ấm bụng, mưa quá, nhâm nhi đỡ buồn.
Chị ngồi lắc võng, may hai cái bìa khăn mới mua cho ông, vừa may
vừa nói:
- Bây giờ người ta làm khăn mỏng dính, hỏng may xổ chỉ ra nùi nùi
hết trơn.
Ông không nói gì, đi xúc chén lúa lại đổ cho đầy mẻ, biểu "Cộc, lại
ăn nè". Con vịt không chạy lại cái mẻ mà lạch bạch đi tới chỗ bộ ván
ngựa sần sùi nó chui xuống gầm. Cái thau nhôm hôm nắng ông lấy
nấu chai trét chiếc ghe giờ được làm mẻ un đang phì phì khói. Ông
ngồi trước chai đế trầm ngâm. Chị dè dặt lên tiếng:
- Anh Hai tính chừng nào đi?
- Hai ba bữa nữa. Đi chuyến này qua tới miệt Khánh Hà, chắc đi lâu
mới về.
Người đàn bà cuối xuống cắn chỉ, che cái thở dài.
- Cô Út à, tôi... có chuyện muốn nói với cô.
Chị làm rối chỉ:
- Gì vậy anh Hai?
- Sáng nay tôi gặp thằng bạn, nó mới chạy bầy vịt từ nông trường
qua. Tôi hỏi, nghe nói có thợ gặt An Bình ở đó.
- Anh Hai!
Ông bước xuống đẩy mớ vỏ dừa vô mẻ un. Xơ dừa mịn, cháy rực,
rồi tắt ngắm.
- Ảnh tên Sinh phải hôn cô Út? Ờ, Sinh, ảnh... cũng đang gặt bên
đó, cô Út à.
- Anh Hai!
Chị buông cái khăn xuống kêu bàng hoàng.
- Tàu từ chạy nông trường lúc năm giờ, ngang đây, chắc cỡ sáu giờ
rưỡi. Cô ráng đón chuyến đó. Để lỡ tới bữa sau, sợ mấy ảnh lại
chuyển đồng, kiếm cực lắm. Tính vậy nghen cô Út.
Con Cộc lại hì hụi đi ra, ngỏng cổ lên nhìn ông. Khuôn mặt ông mờ
mờ sau làn khói. Khói mắt dịch, làm cay con mắt muốn chết. Cái
võng chị ngồi sau lưng ông, chị khom xuống cắn mớ chỉ rối mà
buồn. Ông rót ly rượu uống mà buồn.
- Anh Hai à, sao anh tính vậy?
- Tôi biết cô còn nặng lòng cùng ảnh. Qua bển hỏi đầu đuôi gốc
ngọn ra làm sao. Nói có tình, mình ở lại, biết đâu người ta có nỗi khổ
gì...
Chị bật khóc. Con Cộc điềm đạm lại cái mẻ lúa, nó ăn chậm rãi. Ý
nói làm sao mà tôi tội nghiệp hai người quá đi, làm người mà khổ
vậy, làm vịt còn sướng hơn. Đêm đó, ngoài nhà xuồng, nó nghe ông
thở nhẹ mà rất dài. Ai biểu...
Sáng sau ông lùa vịt ra đồng khi trời còn tối mịt tối mò. Ông đuổi vịt
đi xa thiệt xa nhưng vẫn nghe tàu bè ghé bến nào rất gần. Ông ngồi
bệt bên bờ mẫu, khăn cũ, nón cũ, kêu: "Cộc, biểu!" mà không thèm
để ý nó có lại hay không. Kêu chơi vậy thôi. Nhưng Cộc là con vịt có
nguyên tắc. Nó vẫn chạy lại, gác đầu lên đùi ông, cọ cọ an ủi. Rồi
bất ngờ, ông lùa vịt cắt vạt đồng hối hả trở vô. Ông bỏ quên bịch
thuốc trong nhà, thèm quá. Tới liếp tràm bông vàng trong vườn, ông
ngồi lại, lũ vịt tràn xuống ao rau muống tắm táp. Ở đây, bỏ ba liếp
chuối nữa là tới nhà. Ở nhà, không biết có còn ai...? Ngồi đây thôi,
bước vô đó lỡ không còn ai... Hồi lâu, ông nói như chỉ nói với mình:
- Mai mốt mình đi nữa hen Cộc?
Con vịt cạp mắt cá ông, đi thì đi chớ gì.
- Mày đi hoài, mầy mệt không?
Nó há mỏm đóm đen cạp ngón cái chân ông, thì mệt chớ.
- Tao đốn tràm, làm nhà lại, ở luôn nghen.
Con Cộc mổ vô ống quyển ông, rồi nhóng cần cổ dòm ông lom lom,
có phải ông chờ bà đó quay lại không? Ông nhìn lên ngọn tràm và
thấy mấy cái bông vàng như mấy con sâu rọm đang dịu dàng rơi
xuống. Có phải chỉ cần nhìn lại một chút, ông sẽ thấy ngọn khói bay
lên không? Gió lùa lá chuối khô giống hệt bước chân ai vậy. Ông
mắc ngoái nhìn. Và tôi đã chụp được chân dung ông trong ngoái
nhìn khắc khoải đó.
Tôi bảo Khoa:
- Những người như ông già này có rất nhiều ở xứ mình, Khoa à, tao
đâu có kiếm gì đâu.
Khoa nhìn tôi và nhìn lại những tấm ảnh, nó ngờ ngợ, "Mầ đang kể
về ba mầy, phải không?"
Chuyện Vui Điện Ảnh
Người ta nói chú Sa y chang như cầu thủ bóng đá Vũ Công Tuyền
của tuyển quốc gia. Vũ Công Tuyền sáng chói ở tuổi ba mươi, còn
chú Sa bốn mươi bốn tuổi thì tự nhiên nổi tiếng toàn quốc. Chú Sa
sống ở hẻm Cựa Gà, ngó ra dốc cầu Quay cũ. Đầu hẻm có dựng cái
bảng "Hẻm văn hóa 115", nhưng người trong thành phố vẫn quen
gọi là hẻm Cựa Gà. Nghĩ lại, để chữ "Hẻm văn hóa Cựa Gà" cũng
bậy, nghe nó tệ nạn làm sao ấy. Người trong hẻm làm đủ nghề, từ
mới vô ngạch công chức cho tới cán bộ về hưu, từ công nhân cho
tới bán bắp luộc, mua ve chai lông vịt, thiến heo... Họ gọi đó là nghề
tay mặt. Nghề tay trái là đóng phim. Bà con mê đóng phim lắm,
không phải vì sống được mà vì vui. Người đầu tiên rủ mọi người vô
nghệ thuật diễn mướn là chú Sa. Chú Sa làm bảo vệ kiêm thêm
trồng bông xén cỏ ở hãng phim truyền hình, người rất quý bà con
trong xóm. Chú thấy không thể để cho ngoài trăm khuôn mặt quanh
mình cả đời sống thầm sống lặng, kẹt trong hẻm này hoài. Chú kéo
cả xóm đi đóng phim để an ủi mỗi người có lúc thấy mình vô phim
khác ngoài đời. Bây giờ là trào lưu làm phim chiến tranh để nhớ về
quá khứ, mà hễ làm loại phim đó là phải cần thiệt nhiều diễn viên
quần chúng. Thanh niên vô vai lính, lúc bên mình, lúc thay áo qua
bên giặc. Ông bà già, con nít đóng vai dân, nhiều nhất là dân chạy
loạn. Sồn sồn cỡ chú Sa hóa trang vô vai lãnh đạo tham mưu hoặc
làm quan Tây. Tuổi nào có vai nấy, chạy ào qua cái mương, nước
văng sáng trắng, có thấy mặt mũi gì đâu nhưng vẫn gọi đây là vai,
vẫn vui. Dân hẻm Cựa Gà hồi nào giờ nổi tiếng hịch hạc, dễ chịu.
Riêng về chú Sa, một lần diễn vai ông nông dân...
 





